Tiểu điểm :
quantri.com.vn
Mar 11
NGÂN SÁCH
Triển vọng kinh tế 2010: Lạc quan và thận trọng PDF. In

Lạc quan và thận trọng, các chuyên gia kinh tế và doanh nghiệp hướng về năm 2010 với những kỳ vọng mới, nhưng cũng lường đến không ít trở ngại.


Ngày 1/12, Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức hội thảo “Kịch bản kinh tế năm 2010”. Tại đây, những con số và dự báo lạc quan đã được đưa ra, nhưng cũng đi cùng dự báo sẽ khó "cất cánh" khi còn nhiều tác động trái chiều, những biến động khó lường níu kéo.

Một năm “sẽ tốt hơn”

Theo chuyên gia kinh tế Trần Du Lịch, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội Tp.HCM, năm 2010, kinh tế vĩ mô sẽ đạt những kết quả tốt hơn năm 2009. Tốc độ tăng trưởng GDP sẽ ở khoảng 6,5%, cao hơn mức 5,2% dự kiến cho cả năm nay; kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng trở lại khoảng 6% thay vì có thể âm 10% trong năm 2009; CPI tiếp tục được giữ ở mức dưới 7%; nhập siêu sẽ giảm...

Để đạt được những kết quả dự kiến trên, một yêu cầu mà TS. Lịch nhấn mạnh là Chính phủ cần tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ ổn định trong năm tới. Giá trị VND nên giữ ổn định nhưng vẫn phải điều chỉnh linh hoạt theo tỷ giá đồng USD nhằm kích thích xuất khẩu, vừa giảm nhập siêu và giữ thăng bằng cán cân tổng thể.

Chính sách lãi suất mà chuyên gia này dự báo là sẽ tiếp tục duy trì thực dương, bên cạnh yêu cầu giải quyết được sự mất cân đối trong cơ cấu tín dụng ngắn hạn và trung – dài hạn, hệ thống ngân hàng thương mại được củng cố và tiếp tục phát triển thị trường vốn.

Không đưa ra những con số dự báo cụ thể, nhưng TS. Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright, cũng cho rằng yếu tố lạc quan 2010 là nền kinh tế đang trên đà phục hồi; thể hiện ở GDP tăng liên tục các quý vừa qua, tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp gần như đã trở lại bình thường, tổng doanh số bán lẻ vẫn tăng trưởng cao.

Chuyên gia Vũ Thành Tự Anh nhấn mạnh rằng sự lạc quan đó nhận được sự ủng hộ từ dấu hiệu hồi phục của kinh tế thế giới, thể hiện ở những quốc gia lớn như Mỹ, Nhật Bản và khu vực đồng Euro. “Tôi cho rằng hai điểm sáng nổi bật nhất cho năm 2010 là kinh tế thế giới và thương mại toàn cầu đang phục hồi, sẽ có tác động tích cực tới kinh tế Việt Nam”, TS. Tự Anh nhấn mạnh.

Ngoài ra, một diễn biến thuận lợi và cụ thể khác được ông cho là “cơ may” đối với Việt Nam là đồng USD đang tiếp tục xu thế giảm giá. Điều này góp phần giảm bớt áp lực giảm giá VND và đối với chính sách điều hành tỷ giá – một bài toán khó khăn với nhiều tác động mạnh đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm 2008 và 2009.

Một kịch bản lạc quan được GS. Nguyễn Quang Thái, Tổng thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam đưa ra là nền kinh tế Việt Nam có thể tạo đột phá, nhưng có lộ trình và những bước đi thích hợp để chuyển mạnh sang mô hình mới, với yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế được tiến hành dựa trên chất lượng, năng suất và hiệu quả. Các chỉ tiêu kinh tế theo đó có thể vừa phải, nhưng hướng đến chất lượng, đảm bảo ổn định vĩ mô, phát triển khoa học công nghệ, tăng cường năng lực cạnh tranh.

Một kịch bản khác theo GS. Nguyễn Quang Thái, có nhiều khả năng hơn, là các điều kiện phát triển chỉ có cải tiến nhẹ trong thế giới cạnh tranh gay gắt, các vấn đề tồn đọng không được xử lý kiên quyết theo hướng đi vào chất lượng. Ở kịch bản này, một số chỉ tiêu kế hoạch có thể đạt được như tăng trưởng GDP trên 6%, nhưng lo ngại mà chuyên gia này đặt ra là có thể nguy cơ lạm phát quay lại, mất ổn định vĩ mô và xã hội, đất nước khó khăn dài hạn trong xu thế trì trệ và không phát triển bền vững...

Trọng lực ngoài quốc doanh

Tại hội thảo, một nội dung được các chuyên gia tập trung phân tích là Chính phủ cần đánh giá lại hiệu quả của các hoạt động đầu tư, hiệu quả sản xuất của các thành phần kinh tế để có những điều chỉnh và phát huy hợp lý, tạo nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng mạnh và bền vững hơn trong năm 2010. Điểm chung được kỳ vọng là sức bật của khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Câu hỏi mà TS. Trần Du Lịch đặt ra là “Làm thế nào để phục hồi bền vững, khắc phục được sự tồn tại của cơ cấu nền kinh tế thiếu cạnh tranh?”. Một dẫn chứng mà ông đưa ra là hệ số ICOR bình quân giai đoạn 1995 – 2008 của Việt Nam là 5,11. Dữ liệu cụ thể trong hệ số này cho thấy, ngoài khu vực ngoài quốc doanh thể hiện hiệu quả hơn với 3,56, khu vực đầu tư nước ngoài cũng ở mức cao là 5,05, đặc biệt khu vực quốc doanh lên tới 7,55.

Đó cũng là một điểm hạn chế của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, theo nhìn nhận của TS. Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa Quản trị Kinh doanh – Đại học Ngân hàng Tp.HCM, khi cung vốn nhiều nhưng tỷ suất đầu tư thấp; để tạo được 1 đồng phải cần tới gần 8 đồng đầu tư như dẫn chứng ở trên. Theo đó, vấn đề Chính phủ cần xem xét là gia tăng đầu tư hay chất lượng đầu tư trong thời gian tới.

Cụ thể hơn, TS. Vũ Thành Tự Anh cho rằng cần phân tích cụ thể hơn trong cơ cấu hiệu quả đầu tư của các thành phần kinh tế để phát huy những động lực cho tăng trưởng. Và theo ông, một trọng lực hiện nay và đang tạo xu hướng là sức mạnh và đóng góp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; điều này sẽ tiếp tục thể hiện trong năm 2010.

Dẫn chứng, trong giá trị sản xuất công nghiệp 11 tháng qua, tăng trưởng của khu vực ngoài quốc doanh đã bật mạnh từ tháng 7 trở lại đây, bên cạnh khối đầu tư nước ngoài; trong khi đó, khu vực quốc doanh lại ở mức thấp và có xu hướng giảm dần. 3 tháng gần nhất, so với cùng kỳ 2008, tăng trưởng của khu vực quốc doanh lần lượt giảm mạnh từ 8,5%, 6,8% và còn 6,1% trong tháng 11; trong khi khu vực ngoài quốc doanh sau khi giảm từ 16,5% xuống 15,7% trong tháng 10 đã tăng trở lại 17,3% trong tháng 11.

Dẫn chứng trên đặt ra yêu cầu Chính phủ xem xét lại việc định hướng các hoạt động đầu tư, sự hỗ trợ và điều chỉnh hợp lý cho các khu vực để hướng tới đà tăng trưởng mạnh hơn và bền vững hơn trong dài hạn.

Lo ngại nhiều biến động

Tại hội thảo, dòng chảy thời sự của nền kinh tế những ngày qua được đề cập đến như những điển hình của biến động, thay đổi chính sách mà các doanh nghiệp phải đối diện. Đó là biến động của lãi suất, tỷ giá và những điều chỉnh chính sách liên quan; là sự khôn lường của thị trường vàng, phản ứng thái quá của thị trường chứng khoán...

Theo bà Lại Thu Trúc, Giám đốc Tài chính và Đầu tư Công ty Cổ phần Doanh thương Mỹ Á, khó khăn nổi bật hiện nay là việc dự báo, tiếp nhận các thông tin dự báo về chính sách, thay đổi của thị trường, bởi tình hình kinh tế hiện nay biến động không ngừng và việc dự báo phụ thuộc vào nhiều yếu tố.

“Tôi nhận thấy dự báo về vĩ mô, các chuyên gia theo các trường phải lạc quan, thận trọng, nhưng doanh nghiệp chúng tôi thì theo trường phải duy lý, cái nào có lý thì chúng tôi tin. Với chính sách, chúng tôi quan tâm ở việc giám sát thực hiện, bởi khi đưa ra nó thực thi chậm, chưa đúng thì cũng không đưa đến kết quả tốt”, bà Trúc nói.

Trong khi đó, theo ý kiến của một số doanh nghiệp, điều họ cần hiện nay là sự ổn định về môi trường kinh doanh, về chính sách quản lý và điều hành nền kinh tế. TS. Vũ Thành Tự Anh cũng nhấn mạnh rằng, doanh nghiệp có thể tự lực, không trông chờ hỗ trợ từ Chính phủ, nhưng họ cần một môi trường vĩ mô ổn định trong khi đã có quá nhiều biến động mạnh thời gian qua, cũng như dự báo sẽ tiếp tục khó lường trong thời gian tới.

Hai rủi ro và khả năng có biến động lớn được TS. Tự Anh đề cập đến là áp lực phá giá VND và rủi ro tỷ giá, nguy cơ lạm phát cao trở lại trong năm 2010. Và một lo ngại được ông nói đến là rủi ro về môi trường chính sách; điều đã thể hiện ở hai lần thay đổi trong năm 2009 và mỗi lần là “quay 180 độ”. Hay như cách nói của TS. Trần Du Lịch, doanh nghiệp hiện vẫn “nơm nớp” với những biến động của tỷ giá và nguy cơ lạm phát cao trở lại.

Thế nhưng, theo quan điểm của TS. Lê Thẩm Dương, cần nhìn nhận và thích nghi với những thay đổi của chính sách. “Doanh nghiệp vẫn ngại chính sách thay đổi, nhưng tôi lại cho rằng việc thay đổi là đương nhiên, thay đổi để ổn định hơn chứ không phải chỉ muốn thay đổi. Nếu không thay đổi thì làm sao tạo được ổn định? Doanh nghiệp cần sống chung và thích nghi với những thay đổi đó”, ông Dương nói.

Lo ngại mà TS. Dương nhấn mạnh là những biến động của thị trường, đã và đang tạo ra những khó khăn khó giải đối với hoạt động của doanh nghiệp.

Ông phân tích: “Hàm của nền kinh tế có nhiều biến, khôn lường và có những trường hợp không chạy theo những quy luật thông thường. Đó là đặc trưng của thị trường những ngày vừa qua, như giá vàng, phản ứng suy giảm thái quá trên thị trường chứng khoán... Hay chỉ cần một tin đồn thôi cũng có thể tạo những xáo trộn không theo quy luật kinh tế vĩ mô”. Và điều này, ngoài năng lực quản lý và điều hành của nhà hoạch định chính sách, còn phụ thuộc vào khả năng thích nghi, xoay xở của mỗi doanh nghiệp.

 
Sáp nhập doanh nghiệp niêm yết - không dễ PDF. In

Để tăng quy mô tài chính và tận dụng lợi thế của nhau, nhiều doanh nghiệp niêm yết đã tính chuyện sáp nhập. Tuy vậy, cho đến nay chưa có “cặp đôi” nào đạt được ý nguyện của mình.

Lộ trình nhiêu khê

Gần đây có một thương vụ sáp nhập được cho là khá thành công giữa Công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan dầu khí (PVD) với công ty con PVD Invest (PVDI). Tuy vậy, việc sáp nhập này được thực hiện giữa một công ty niêm yết và một công ty có cổ phiếu đang giao dịch trên thị trường OTC. Còn từ trước đến nay, chưa có hai doanh nghiệp niêm yết trên sàn nào thực hiện sáp nhập.

Trong vài tháng qua, có hai “cặp đôi” có ý định sáp nhập được thông tin rộng rãi là Công ty cổ phần Hà Tiên 1 sáp nhập với Hà Tiên 2 và Công ty cổ phần Miare (KMR) với Miare Fiber (KMF). Gần đây nhất, ngày 2-10, Hội đồng quản trị của Công ty cổ phần SHC đã thông qua chủ trương sáp nhập với Công ty Giao nhận kho vận ngoại thương TPHCM (TMS). Tuy vậy, cả ba thương vụ này đều còn một quãng đường dài nữa mới đến kết quả cuối cùng.
Hành trình để thực hiện một thương vụ sáp nhập doanh nghiệp niêm yết, theo ông Đinh Quang Hoàn, Giám đốc tài chính doanh nghiệp Công ty Chứng khoán Bản Việt, bao gồm nhiều bước.

Đầu tiên là hai doanh nghiệp có ý định sáp nhập sẽ làm hợp đồng tư vấn sáp nhập với một công ty tư vấn, sau đó họ sẽ tổ chức đại hội cổ đông để xin ý kiến về chủ trương sáp nhập.

Nếu được thông qua, công ty tư vấn sẽ định giá tài sản và chọn lựa phương thức thanh toán, có thể bằng tiền, bằng cổ phiếu hoặc cả hai. Trong trường hợp chỉ thanh toán bằng cổ phiếu thì phía tư vấn sẽ đưa ra tỷ lệ hoán đổi. Hai công ty lại một lần nữa xin ý kiến cổ đông bằng văn bản hay tổ chức đại hội để thống nhất tỷ lệ hoán đổi cụ thể.

Khi đã được cổ đông thông qua, doanh nghiệp sáp nhập mới sẽ xây dựng bản cáo bạch, và gửi hồ sơ xin phép Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho phát hành cổ phiếu để thực hiện hoán đổi cổ phiếu của doanh nghiệp bị sáp nhập. Kế đến là doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ xin hủy niêm yết. Doanh nghiệp sau sáp nhập phải xin giấy phép kinh doanh mới, sau khi phát hành thành công cổ phiếu để thực hiện hoán đổi thì phải làm thủ tục để niêm yết bổ sung cổ phiếu.
Cho đến hiện tại, chủ trương sáp nhập của ba cặp doanh nghiệp nói trên đều chưa được lấy ý kiến cổ đông về tỷ lệ hoán đổi. Và theo thông tin từ phía Miare, ngày 27-10, công ty sẽ tổ chức đại hội cổ đông bất thường để xin ý kiến cụ thể về sáp nhập. Trong khi đó, cả hai công ty xi măng Hà Tiên 1 và 2 đều sẽ tổ chức đại hội cổ đông bất thường vào tháng 11 này để thông qua tỷ lệ chuyển đổi và các vấn đề liên quan đến việc sáp nhập.

Theo ông Phạm Đình Nhật Cường, Phó tổng giám đốc Công ty Xi măng Hà Tiên 1, cả hai công ty hiện đang gấp rút tiến hành các bước thủ tục để cố gắng trong quí 1-2010 có thể hoàn thành. Tuy vậy, ông Cường cũng nhấn mạnh “đó là mong muốn chủ quan, còn những yếu tố khách quan thì chưa thể tiên liệu được”.

Còn nhiều băn khoăn

Do chưa có tiền lệ cũng như chưa có các hướng dẫn trong việc sáp nhập hai công ty niêm yết, nên các cơ quan quản lý như sở kế hoạch và đầu tư, nơi cấp giấy phép kinh doanh mới cho công ty đã sáp nhập, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Trung tâm Lưu ký chứng khoán đều phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Vì thế doanh nghiệp niêm yết khi tiến hành sáp nhập rất lo về vấn đề thủ tục.
Ông Hoàn cho rằng lộ trình kéo dài như trên ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp vì bị áp lực từ phía cổ đông. Thêm vào đó, cổ phiếu của công ty bị sáp nhập phải hủy giao dịch trước khi chuyển đổi, nên nếu thời gian lưu ký kéo dài cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cổ đông do không thể chuyển nhượng cổ phiếu.
“Nên học hỏi thông lệ quốc tế để việc sáp nhập doanh nghiệp được nhanh gọn và hợp lý hơn, tránh tình trạng các công ty có ý muốn sáp nhập phải chùn bước trước rào cản của các thủ tục hành chính rườm rà”, ông Hoàn nhấn mạnh.

Không dễ tìm được sự đồng thuận của cổ đông

Bản thân các doanh nghiệp khi tiến hành sáp nhập đã nhìn thấy được những lợi ích của việc “góp gạo” này, như vốn được tăng thêm, dự án được tiếp tục mở rộng, có thêm thị phần... Tuy vậy, “có sáp nhập được hay không còn phụ thuộc nhiều vào ý kiến cổ đông”, ông Hoàn khẳng định.
Mỗi nhà đầu tư khi nắm giữ cổ phiếu đều có những chiến lược khác nhau, có người mong muốn công ty sáp nhập sẽ lớn mạnh hơn, giá cổ phiếu sẽ tăng, nên ủng hộ. Nhưng cũng có người băn khoăn không biết liệu sau khi sáp nhập công ty có còn làm ăn tốt như trước không, hoặc đằng sau sự sáp nhập ấy có gì uẩn khúc không?... Bên cạnh đó, tỷ lệ chuyển đổi cổ phiếu cũng là một trong những vấn đề thường khó đạt sự đồng thuận.
Đầu tháng 11 sắp tới, Hà Tiên 1, Hà Tiên 2 sẽ tổ chức đại hội cổ đông về phương án sáp nhập, và như ông Hoàn nói thì “đây là mấu chốt của việc sáp nhập, nếu cổ đông không thông qua thì việc sáp nhập không thể diễn ra”. Và cũng vì vậy, cả bên tư vấn lẫn hai công ty đều đang tính toán một tỷ lệ chuyển đổi sao cho “vui vẻ cả làng”, tuy vậy “việc xung đột lợi ích sẽ khiến cho sự đồng thuận không dễ có”.

Trong trường hợp Hà Tiên 1, theo ông Cường, công ty đã dự liệu trước những điều này, và ông khẳng định sự đồng thuận của Hà Tiên 1 là không khó.
Lý do mà ông Cường đưa ra là ngoài cổ phần nhà nước không được tham dự biểu quyết theo Luật Chứng khoán là 65%, thì trong 35% còn lại, số quỹ đầu tư đang bỏ vốn vào Hà Tiên 1 là trên 75%, trong khi đa phần các quỹ này rất đồng tình với việc sáp nhập, số cổ đông riêng lẻ còn lại rất ít nên việc không thông qua được phương án sáp nhập là điều khó xảy ra. Nhưng với Hà Tiên 2, số lượng cổ đông cá nhân khá nhiều nên có thể có khó khăn trong việc sáp nhập hai công ty.

Thời báo kinh tế Sài Gòn

 
Để gọi vốn từ quỹ đầu tư PDF. In

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hầu hết gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng. Trong khi đó, nhiều quỹ đầu tư nước ngoài có mặt tại Việt Nam đang tìm doanh nghiệp để rót vốn đầu tư. Con đường nào để tiếp cận nguồn vốn này?

Nâng cao năng lực

Đọc thêm...
 


Trang 1 của 3
The number corresponds to an error message