|
|
Tín dụng bắt đầu tăng trưởng mạnh |
|
|
|
Tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng tháng 2 vừa qua tăng 1,14%, cao nhất trong vòng 3 tháng qua. Xu hướng này dự báo sẽ mạnh lên từ tháng 3.
Ngày 3/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tài liệu và những dữ liệu khá chi tiết liên quan đến việc điều chỉnh chính sách tiền tệ, tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại trong hai tháng đầu năm 2010.
Điểm đáng chú ý là thông tin công bố cho thấy tăng trưởng tín dụng trong tháng 2 đã bắt đầu tăng trở lại, đạt 1,14%, trong khi tháng 1 chỉ tăng 0,26%, tháng 12/2009 chỉ tăng 0,72% (trước đó, số liệu Ngân hàng Nhà nước ước tính tăng trưởng tín dụng trong tháng 1/2010 ở khoảng 1%).
Diễn biến tăng trưởng tín dụng những năm gần đây cho thấy, thường hai tháng đầu năm có mức tăng thấp hơn so với các tháng còn lại. Đây cũng là thời điểm chuyển giao các kế hoạch kinh doanh với các chỉ tiêu cho năm mới của ngân hàng và doanh nghiệp, cũng như có ảnh hưởng từ các kỳ nghỉ lễ khá dài.
Trong hai tháng đầu năm nay, tăng trưởng tín dụng tính chung ước tăng 1,4%; hai tháng cùng kỳ năm 2009 cũng chỉ tăng 1,82%; cá biệt trong năm 2006 là mức giảm 1,45%. Trong năm 2009, tăng trưởng tín dụng bắt đầu tăng mạnh từ tháng 3 và duy trì ở mức cao trong quý 2. Năm nay, dự báo đà tăng cũng sẽ bắt đầu mạnh hơn từ tháng 3 này.
Cơ sở cho dự báo trên là thanh khoản của hệ thống ngân hàng đã được cải thiện. Nếu trước Tết Nguyên đán, vốn khả dụng dư thừa của hệ thống ở khoảng 13.000 tỷ đồng, thì hiện đã có khoảng 30.000 tỷ đồng. Đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước chính thức cho vay trung và dài hạn theo cơ chế thỏa thuận, ngân hàng và doanh nghiệp, người vay vốn có điều kiện thuận lợi hơn để gặp nhau, khơi thông nhanh hơn nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.
Thông tin khác được chú ý trong ngày 3/3 là nhiều khả năng Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục xem xét để có thể mở rộng cơ chế lãi suất thỏa thuận khi cho vay các khoản ngắn hạn…
 Cũng theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước, nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng trong hai tháng đầu năm 2010 đã giảm 0,17%. Điều này được nhà điều hành giải thích là có từ sự sụt giảm mạnh của lượng tiền gửi từ các tổ chức kinh tế (giảm 5,94%), do các doanh nghiệp tập trung tăng đầu tư từ đầu năm. Điều này cũng thường thấy ở những tháng đầu năm trước đây. Bù lại, lượng tiền gửi của dân cư trong tháng 1 và 2 vừa qua đã tăng mạnh trở lại (tăng 5,57%).
Một nguồn vốn bổ sung khác cho các tổ chức tín dụng đầu năm đáng kể là từ quyết định giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống còn 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng. Điều chỉnh này đã làm tăng nguồn vốn để cho vay khoảng 500 triệu USD (tương đương với khoảng 9.000 tỷ đồng) cho các tổ chức tín dụng, giúp giảm chi phí huy động vốn khoảng 0,1% và tác động ổn định tỷ giá.
Liên quan đến chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước cho biết, cuối năm 2009 tỷ lệ nợ xấu là 2,03%, đến tháng 2/2010 ở khoảng 2,09%.
Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước xác định sẽ điều hành linh hoạt và theo nguyên tắc thị trường công cụ nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn, hoán đổi ngoại tệ, công cụ dự trữ bắt buộc; điều chỉnh linh hoạt và thận trọng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, kết hợp với kiểm soát tín dụng theo mục tiêu.
Năm 2010, Ngân hàng Nhà nước dự kiến tăng trưởng tín dụng sẽ ở khoảng 25%. Năm 2009 tăng trưởng tín dụng là 37,73%.
(theo VNeconomy) |
|
|
Bộ trưởng Bộ Tài chính: Không thể tăng giá đơn giản “một lèo” |
|
|
|
Điều hành giá cả trong năm 2010 phải đối mặt với thách thức rất lớn là làm sao vừa phải đảm bảo cho một số loại giá như giá than, giá điện theo cơ chế thị trường, vừa phải làm sao đảm bảo cho lạm phát không được vượt quá 7% như chỉ tiêu Quốc hội đã thông qua.
Xung quanh vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Vũ Văn Ninh, Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Dư luận đang chờ xem rút cục giá than và giá điện nếu theo cơ chế thị trường thì sẽ tăng đến mức nào. Với kinh nghiệm từ việc điều hành giá xăng theo cơ chế thị trường, theo ông, điều quan trọng nhất trong việc điều hành để giá điện và giá than cũng theo được cơ chế thị trường là gì?
Từ năm 2006 chúng ta đã có chủ trương điều hành giá xăng thực hiện theo giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nhưng điều hành trong bối cảnh rất đặc biệt, mặc dù xăng cũng đi theo thị trường nhưng nước ta năm 2008 lạm phát rất cao. Trên thế giới thì thời điểm đó có những lúc giá xăng dầu thị trường thế giới lên đến 147 USD/thùng.
Chúng ta có bước điều chỉnh giá một cách hợp lý để giá lên mức tương đối cao, song vẫn chưa hoàn toàn đi theo thị trường được vì phải thực hiện mục tiêu kìm chế và bình ổn giá lên hàng đầu.
Bước sang năm 2009, giá xăng dầu thế giới có sự dịu đi và giảm xuống nhưng và chưa giảm ngay được, để giá xăng tiến được theo cơ chế thị trường thì Nhà nước điều hành giá thông qua các chính sách thuế chứ không tăng giá đến mức gây sốc được. Nhà nước đã lùi rất nhiều và ngân sách phải bù lỗ rất lớn. Cứ dần dần từng bước như vậy thì giá xăng đã tiến được theo giá thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước về thuế với biểu thuế, biểu chi phí được công bố, công khai minh bạch.
Chính vì thế, đối với giá điện và giá than, khi điều hành theo cơ chế thị trường, muốn tăng thì cần phải có tính toán cụ thể căn cứ trên các nghiên cứu tương đối đánh giá tác động một cách toàn diện đến từng ngành sản xuất nói riêng và cả nền kinh tế nói chung. Không thể tăng giá đơn giản “một lèo”.
Mặc dù, cũng như giá xăng, giá than và giá điện bị “kìm nén” khá lâu và những người ở cương vị điều hành đều muốn đi nhanh để theo kịp diễn biến giá thị trường, nhưng chúng ta không thể vì thế mà để thị trường bị “sốc” giá.
Giá điện và giá than tăng sẽ kéo theo một loạt các loại giá khác, nhưng có lẽ đã đến thời điểm mà hai loại giá này không thể không tăng. Quan điểm của Bộ Tài chính thế nào, thưa ông?
Chúng ta phải thực hiện chính sách thị trường hoá, nhưng nếu tăng ngay một lần các loại giá như điện, giá than theo cơ chế thị trường thì nguy hiểm lắm. Như tôi đã phân tích ở trên, trước đây, khi điều hành giá xăng theo cơ chế thị trường, dù muốn đi rất nhanh nhưng chúng tôi có dám đưa lên cao ngay đâu và đã có lúc phải chấp nhận ngân sách Nhà nước vẫn phải bù ra rất lớn. Việc điều hành phải rất kiên trì và còn phải phụ thuộc vào bối cảnh, diễn biến thị trường chứ không thể chỉ theo mong muốn chủ quan được.
Điện và than là “đầu vào” của nhiều ngành sản xuất, tăng giá hai mặt hàng này cũng đồng nghĩa một loạt mặt hàng khác cũng sẽ tăng giá theo. Trong bối cảnh như vậy, ông có cảm thấy lo ngại giá cả leo thang?
Giá xăng đã được điều chính theo cơ chế thị trường mà không gây sự bất ổn nào lớn về giá cả trên thị trường. Tôi nghĩ, giá than và giá điện cũng sẽ tương tự như vậy.
Tất nhiên, đề đạt được mục tiêu kiềm chế chỉ tiêu CPI ở mức dưới 7% như Quốc hội đã thông qua thì trong quản lý điều hành giá cần sự nỗ lực vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương trong việc tích cực rà soát, kiểm tra chặt hơn danh mục hàng hoá phải đăng ký giá để không có mặt hàng nào tăng giá quá cao.
Một điều rất quan trọng để giá cả được ổn định còn là tuyệt đối không được để mất cân đối cung cầu hàng hoá.
Thủ tướng Chính phủ cũng luôn có những chỉ đạo sát sao về vấn đề này. Theo đó, Thủ tướng yêu cầu các bộ và các địa phương chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất, chuẩn bị đầy đủ hàng hoá phục vụ nhân dân, tăng cường quản lý thị trường, kiểm soát giá cả theo cung cầu, không để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hoá và biến động lớn về giá cả; phải tăng cường công tác quản lý giá, đấu tranh chống mọi hiện tượng đầu cơ nâng giá...
Về phía Bộ Tài chính thì chúng tôi có hướng quản lý giá phải được kiểm soát ngay từ đầu vào, quá trình hình thành giá bán thế nào và mức giá mà doanh nghiệp đăng ký có phù hợp không và người dân sẽ kiểm soát được mức giá này. Nhưng để làm được việc này, tôi nghĩ, Bộ rất cần nhận được sự tích cực giúp sức của chính quyền các địa phương.
(theo Vneconomy) |
|
Việt Nam sẽ nâng lãi suất cơ bản lên cao nhất châu Á? |
|
|
|
(Dân trí) - Theo dự báo của HSBC, trong năm 2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ nâng lãi suất cơ bản lên mức cao nhất so với 16 nước khác thuộc khu vực. Lãi suất cơ bản ở Việt Nam hiện là 8%.
Ngày 1/12/2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã nâng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%. Lãi suất cơ bản của Việt Nam hiện thấp hơn mức 12,5% của Pakistan và 9,75% của Sri Lanka.
Theo báo cáo mới nhất từ 2 chuyên gia kinh tế Frederic Neumann và Robert Prior - Wandesforde của ngân hàng HSBC, ở thời điểm giữa năm 2010, mức lãi suất cơ bản của Việt Nam sẽ vượt 2 nước trên bởi Ngân hàng Nhà nước phải cố gắng ngăn lạm phát và củng cố sức mạnh cho tiền đồng Việt Nam.
Lãi suất cơ bản đồng Việt Nam có thể lên mức 12% ở thời điểm quý 4/2010.
Báo cáo của ngân hàng HSBC có đoạn viết: “Khi thâm hụt thương mại và lạm phát đều tăng nhanh, tiền đồng chịu áp lực, chính phủ cần đưa ra chính sách phù hợp. Xét đến chính sách lãi suất, chúng tôi cho rằng Việt Nam, Ấn Độ, và Indonesia sẽ nâng lãi suất cơ bản mạnh tay trong năm nay”.
Bản báo cáo của HSBC còn nói đến chính sách lãi suất tại một số nền kinh tế khác như Úc, Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật, Malaysia, New Zealand, Philippin, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan và Thái Lan.
HSBC dự đoán đến quý 2/2010 tỷ lệ lạm phát của Việt Nam có thể lên mức 12%. Chuyên gia Robert Prior - Wandesforde nhận định, lạm phát sẽ trở thành vấn đề lớn hơn khi giá dầu và giá thực phẩm tăng cao.
̣(Ngọc Diệp Theo Bloomberg) |
|
|
|
|
|
Trang 1 của 5 |